Tag - Tết nguyên đán

Tết cổ truyền ở Việt Nam

12 Tết cổ truyền ở Việt Nam (P.1)

Tết, Tết Nguyên đán, Tết Táo quân, Giao thừa… là những từ ngữ đã trở nên quá thân thuộc ấy lại có nguồn gốc rất thú vị, độc đáo và mang nhiều ý nghĩa phức tạp. Niềm vui năm mới của chúng ta sẽ trọn vẹn hơn khi tìm hiểu và cảm nhận những từ ngữ ấy. Hãy cùng YẾN SÀO CẦN GIỜ tìm hiểu về 12 tết cổ truyền ở Việt Nam nhé.

Đối với người Việt Nam, tiếng Tết đã trở nên thân thuộc. Chúng ta gặp nó từ trong những câu tục ngữ, ca dao, dân ca mộc mạc đến những bài diễn văn trang trọng, từ những câu chuyện thường ngày đến lời cầu khấn trước bàn thờ linh thiêng… Không biết chính xác nó xuất hiện trong tiếng Việt từ bao giờ, chỉ biết nó vốn là một từ gốc Hán. Theo ngôn ngữ Hán, tiết có nhiều nghĩa. Nghĩa gốc của tiết là “mấu tre”. Rồi nó dần chuyển nghĩa, chỉ sự tiếp nối giữa hai gióng cây, hai khúc, hai đoạn vật thể. Từ nghĩa này, nó tiếp tục mở rộng để chỉ thời điểm tiếp xúc giữa hai khoảng thời gian phân chia theo thiên văn – khí tượng trong năm, ví dụ như một năm chia làm 24 tiết (lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn). Sau đó tiết chuyển thành nghĩa “ngày lễ, dịp cúng lễ, vui mừng” – đây chính là nguồn gốc trực tiếp của Tết mà ta đang đề cập. Ngoài ra, tiết còn có nghĩa là bộ phận nhỏ của một chỉnh thể, khoảng, đoạn nhỏ, phẩm chất trong sạch, khảng khái…

Phần lớn tiếng Hán có phiên âm iê khi sang tiếng Việt biến thành ê: thiêm biến thành thêm, thiết (yến) biến thành thết (tiệc), chiết biến thành chết… Tiết cũng vậy, biến thành Tết. Ngoài nghĩa “ngày lễ, dịp cúng lễ, vui mừng” như tết Khai hạ, tết Thanh minh, tết Đoan ngọ, tết Trùng cửu…, trong tiếng Việt, Tết còn dùng để chỉ một dịp đặc biệt duy nhất đầu năm – như người ta thường nói: ăn Tết, đi Tết, chơi Tết, chúc Tết… Như vậy, từ danh từ chung, nó trở thành danh từ riêng (vì thế phải viết hoa). Nó là kết quả của sự rút gọn và biến âm từ xuân tiết trong tiếng Hán hay sự nói gọn từ Tết Nguyên đán (Tết Cả), tết cổ truyền trong tiếng Việt.

1/ Tết nguyên đán

Một năm, người Việt có nhiều lễ, tết, riêng Tết Nguyên Đán (đúng mồng một tháng giêng âm lịch) là ngày tết cổ truyền lớn nhất nên còn được gọi là tất cả. Đây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau… và cũng là lúc giao thời của đông tàn xuân tới.

Theo phong tục tết cổ truyền VN, Tết Nguyên Đán trước hết là tết của gia đình. Chiều 30 tết, nhà nhà làm lễ cúng “rước” gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà. Thứ nhất là cuộc “gặp gỡ” của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư – vi tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công – thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân – thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.

Tết cổ truyền ở Việt Nam

Tết cổ truyền ở Việt Nam

Thứ hai là cuộc “gặp gỡ” tổ tiên, ông bà… những người đã khuất. Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết cổ truyền.

Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà. Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm tết đến, dù đang ở đâu làm gì… hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.

2/ Tết khai hạ

Theo cách tính của người xưa, ngày mùng Một tháng Giêng ứng vào gà, mùng Hai – chó, mùng Ba – lợn mùng, Bốn – dê, mùng Năm – trâu, mùng Sáu ngựa, mùng Bảy – người, mùng Tám – lúa. Trong 8 ngày đầu năm cứ, ngày nào sáng sủa thì coi như giống thuộc về ngày ấy cả năm được tốt. Vì vậy, đến mùng Bảy, thấy trời tạnh ráo thì người ta tin cả năm mọi người sẽ gặp may mắn, hạnh phúc.

Mùng Bảy kết thúc Tết Nguyên Đán thì cũng là lúc bắt đầu Tết Khai hạ – Tết mở đầu ngày vui để chào mùa Xuân mới.

Theo tục lệ Việt Nam, ngày mồng bảy tháng giêng là ngày hạ cây nêu. Cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón tết cổ truyền cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà để “trừ ma quỷ”, nay được hạ xuống.

Lễ hạ nêu còn được gọi là lễ Khai hạ. Nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng trời đất, người ta còn sửa lễ cúng Gia tiên, cúng Thổ côngvà thần tài. Thường sau ngày lễ này, mọi công việc thường xuyên mới được bắt đầu trở lại.

Tục hóa vàng và lễ khai hạ

– Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết cổ truyền, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm, những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cơ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm… ai thích trò nào chơi trò ấy. Đế lế khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết cổ truyền thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hoá vàng.

– “Hoá vàng” là đốt các đồ “vàng mã” mà người ta bày cúng trên bàn thờ gia tiên trong dịp Tết. “Vàng mã” thường là: giấy vàng, giấy bạc (là một thứ tiền giả vàng và bạc lá làm bằng giấy) vàng thoi (những thoi vàng giả làm bằng giấy), bạc thoị…Người ta tin rằng nếu đốt các đồ vàng mã này đi thì người chết ở thế giới bên kia mới nhận được những lễ vật của mình dâng cúng. Có người còn cẩn thận đổ một chén rượu cúng vào đống tro vàng mã để những đồ cúng không bị thất lạc khi chuyển cho người nhận! Cẩn thận hơn, người ta còn hơ các cây miá tươi trên ngọn lửa hóa vàng để các cụ (tức Tổ tiên) có gậy chống về …. âm phủ!

– Ngày hoá vàng không nhất định mà tùy theo từng cảnh. Thường thì người ta hoá vàng vào ngày mồng 3 Tết cổ truyền, có nhà để đến mồng 7 hay mồng 10. Sau ngày lễ, mọi sinh hoạt trong nhà dần dần trở lại bình thường. Lễ hạ nêu thì được cử hành vào ngày khai hạ mồng 7 tháng Giêng âm lịch. Sau ngày này thì xem như hết Tết cổ truyền.

Sưu tầm

—————————

YẾN SÀO CẦN GIỜ tự hào là đơn vị uy tín lâu năm chuyên cung cấp các sản phẩm tổ yến chất lượng cao và các sản phẩm chế biến từ tổ yến như yến nước chưng sẵn, yến nước chưng sẵn cho trẻ em Kids Nest, cháo tổ yến, mì tổ yến, bia tổ yến…

– Đặt mua hàng tại: http://yensaocangio.com/shop/
– Hotline: 1900 6624

Nguồn gốc & Ý nghĩa Tết nguyên đán

Tết nguyên đán – Nguồn gốc và Ý nghĩa

Hằng năm, Tết nguyên đán là lễ hội truyền thống lớn nhất ở Việt Nam. Thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng với mỗi gia đình nói riêng và cả cộng đồng dân tộc Việt Nam ở khắp mọi nơi.

Ở Việt Nam, có rất nhiều ngày Tết như: Tết đoan ngọ (5/5 âm lịch), Tết trung thu (15/8 âm lịch), Tết thiếu nhi (1/6 dương lịch) hay Tết độc lập (2/9 dương lịch)… nhưng Tết cổ truyền vẫn là cái Tết được mong chờ nhất. Nó là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp, với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc, với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh. Hãy cùng YẾN SÀO CẦN GIỜ tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của Tết nguyên đán nhé.

Nguồn gốc Tết nguyên đán

Tết cổ truyền ở Việt Nam là dịp lễ quan trọng nhất trong năm, theo ảnh hưởng văn hóa của Tết âm lịch Trung Hoa. Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết nguyên đán có từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua nói trên quan niệm về ngày giờ “tạo thiên lập địa” như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra các ngày Tết khác nhau.

Nguồn gốc và Ý nghĩa Tết nguyên đán

Nguồn gốc và Ý nghĩa Tết nguyên đán

Đến đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (năm 140 trước công nguyên) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Trước năm 1967, Việt Nam lấy múi giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đổi lịch dùng múi giờ GMT+7 làm chuẩn ở miền Bắc. Vì thế, hai miền Nam – Bắc đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền Bắc ngày 29 tháng 1 trong khi miền Nam là ngày 30 tháng 1). Từ năm 1976, cả hai miền Nam – Bắc mới dùng chung múi giờ GMT+7 và từ đó đón chung Tết cổ truyền.

Ý nghĩa Tết nguyên đán

Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của âm lịch, nên ngày đầu năm của dịp Tết nguyên đán không bao giờ trước ngày 21/1 và sau ngày 19/2 dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2. Tết Giáp Ngọ 2014 rơi vào ngày 31/1/2014 (tức ngày 1 tết âm lịch). Người Việt ăn mừng Tết cổ truyền với niềm tin thiêng liêng vì Tết là ngày đoàn tụ, ngày làm mới, ngày tạ ơn và hi vọng.

a/ Tết cổ truyền là ngày đoàn tụ

Hàng năm, mỗi dịp tết đến – xuân về, những người con Việt Nam dù đang sinh sống, làm việc, học tập ở bất cứ nơi đâu đều cố gắng sắp xếp công việc để được về đoàn tụ cùng gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn nhau cắt rốn. Tết ở Việt Nam luôn là ngày đoàn tụ của mọi gia đình.

Ý nghĩa ngày Tết cổ truyền

Ý nghĩa ngày Tết cổ truyền

Với những người đã khuất, các gia đình theo Phật pháp thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên đã qua đời về ăn cơm Tết với con cháu (hay còn gọi là cúng gia tiên) trước bữa cơm tất niên. Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.

b/ Tết cổ truyền là ngày làm mới

Tết là ngày đầu tiên của năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc của năm cũ và kế hoạch cho năm mới tràn đầy niềm tin và hy vọng. Việc làm mới có thể về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa lại nhà cửa. Những gì không dùng đến sẽ được bỏ đi, những bộ bàn ghế, giường tủ được lau chùi sạch bóng, những chậu hoa ngày Tết được trang hoàng lộng lẫy. Vui nhất là đám trẻ con khi được tắm rửa sạch sẽ với nước lá mùi thơm nồng và diện những bộ quần áo mới.

Tết còn là sinh nhật của tất cả mọi người, từ già đến trẻ ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở đầu khi gặp nhau là chúc nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ con và các cụ già để chúc, chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi. Còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được hưởng ân phúc.

Tết cổ truyền là ngày tạ ơn và hy vọng

Người Việt còn chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà và tổ tiên, nhân viên cám ơn “sếp”. Năm cũ đã qua mang theo mọi xui xẻo và năm mới sắp đến mang theo đầy niềm tin lạc quan và hy vọng.

Sưu tầm

—————————

YẾN SÀO CẦN GIỜ tự hào là đơn vị uy tín lâu năm chuyên cung cấp các sản phẩm tổ yến chất lượng cao và các sản phẩm chế biến từ tổ yến như yến nước chưng sẵn, yến nước chưng sẵn cho trẻ em Kids Nest, cháo tổ yến, mì tổ yến, bia tổ yến…

– Đặt mua hàng tại: http://yensaocangio.com/shop/
– Hotline: 1900 6624

Truyền thống hái lộc dịp năm mới

14 phong tục trong dịp Tết cổ truyền

Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết cổ truyền) là ngày lễ quan trọng nhất của Việt Nam, trong dịp này có rất nhiều pong tục truyền thống có ý nghĩa sâu sắc của người Việt diễn ra nhằm cầu mong một năm mới an lành, may mắn, an khang, thịnh vượng….

Trong những ngày Tết, các thành viên trong gia đình dù có đi đâu xa cũng đều trở về sum họp bên nhau, cùng nhau thăm hỏi người thân, họ hàng, mừng tuổi, đi lễ đầu năm cầu may mắn,… Dưới đây là những phong tục truyền thống đẹp của người Việt trong dịp Tết.

Cúng ông Công, ông Táo

Cúng ông Táo về trời là phong tục truyền thống dịp Tết cổ truyền

Cúng ông Táo về trời là phong tục truyền thống dịp Tết cổ truyền

Theo truyền thống, ngày 23 tháng Chạp âm lịch là ngày ông Công, ông Táo lên thiên đình để báo cáo mọi việc trong nhà của gia chủ với Ngọc Hoàng. Chính vì vậy, tới ngày này các gia đình Việt Nam sẽ dọn dẹp nhà bếp sạch sẽ, mua cá vàng về cúng để tiễn ông Công, ông Táo về trời.

Gói bánh chưng

Bánh chưng là món ăn truyền thống có từ thời vua Hùng và không thể thiếu trong những ngày Tết cổ truyền của người Việt cho tới ngày nay. Các gia đình thường gói bánh chưng từ những ngày 27, 28 ,29 Tết, đây cũng là một món quà biếu ý nghĩa cho họ hàng và bạn bè trong dịp này.

Chơi hoa dịp Tết

Hoa đào miền Bắc, hoa mai miền Nam và cây quất là một trong những cây tượng trưng cho sự may mắn, hạnh phúc, thịnh vượng cho gia đình. Hiện nay, ở Việt Nam còn có thêm rất nhiều loại hoa đẹp khác được người dân ưa thích mua về trang trí trong nhà để chào đón năm mới như hoa lan, hoa ly, hoa cúc, hoa thủy tiên,…

Mâm ngũ quả

Mâm ngũ quả đặt trên bàn thờ tổ tiên là phong tục không thể thiếu trong ngày Tết của người Việt để cầu mong một năm mới bình an, may mắn, hạnh phúc, an khang, phú quý.

Mâm ngũ quả là mâm quả gồm 5 loại quả khác nhau, nhưng truyền thống văn hóa này ở các miền Bắc, Trung, Nam có những đặc điểm khác nhau.

Mua quà biếu Tết

Giỏ quà tặng từ YẾN SÀO CẦN GIỜ

Giỏ quà tặng từ YẾN SÀO CẦN GIỜ

Phong tục của chúng ta là vào dịp trước Tết cổ truyền chúng ta sẽ trao tặng cho nhau những phần quà Tết nhân dịp năm mới, đó là bánh chưng, các loại mứt… Và dĩ nhiên không có món quà tặng nào ý nghĩa bằng món quà tặng sức khỏe. Hiểu được điều đó, nhân dịp năm mới sắp đến, YẾN SÀO CẦN GIỜ cho ra mắt những giỏ quà với các sản phẩm như yến tổ, nước tổ yến chưng sẵn… được trang trí bắt mắt sẽ là phần quà ý nghĩa không thể thiếu để chúng ta dành tặng cho những người thân yêu của chúng ta.

Xem thêm sản phẩm: http://yensaocangio.com/shop/

Quét dọn nhà cửa

Các gia đình ở Việt Nam đều dọn dẹp, vệ sinh nhà cửa, đồ vật sạch sẽ trong những ngày cuối năm với ý nghĩa sắp xếp lại những điều chưa ổn thoải, xóa bỏ những điều không tốt của năm cũ chuẩn bị đón chào năm mới với nhiều tài lộc và may mắn.

Viếng mộ tổ tiên

Con cháu trong gia đình sẽ cùng nhau đi thăm viếng, làm sạch đẹp nơi an nghỉ của ông bà tổ tiên và người thân của mình. Đây là một phong tục phổ biến của người Việt trong dịp Tết cổ truyền, thể hiện đạo hiếu, lòng kính trọng đối với đấng sinh thành và các bậc tổ tiên đã khuất.

Cúng tất niên

Các gia đình tại Việt Nam thường làm mâm cơm thắp hương mời thần linh, gia tiên về ăn tết cùng gia đình vào chiều 30 Tết đồng thời để kết thúc một năm cũ và chuẩn bị đón chào năm mới.

Đón Giao thừa

Giao thừa là thời điểm chuyển giao giữa năm mới và năm cũ, là thời gian quan trọng khi đất trời giao hòa. Lễ cúng giao thừa còn được gọi là lễ trừ tịch diễn ra vào phút cuối cùng của năm với ý nghĩa đem bỏ hết những điều xấu của năm cũ để đón những điều tốt đẹp của năm mới. Lễ cúng giao thừa được thực hiện ở ngoài trời.

Hái lộc

Truyền thống hái lộc dịp năm mới

Truyền thống hái lộc dịp năm mới

Hái lộc đầu xuân là nét đẹp truyền thống trong dịp Tết cổ truyền của người Việt. Hái lộc thường được thực hiện vào đêm giao thừa hoặc sáng sớm mùng một Tết để cầu may mắn, rước lộc vào nhà.

Chúc Tết và mừng tuổi

Người Việt có phong tục đi chúc Tết họ hàng, bạn bè trong những ngày Tết. Thường trong sáng mồng một Tết, con cháu sẽ tới chúc thọ, mừng tuổi ông bà, cha mẹ mình. Sau đó, con cháu được ông bà, cha mẹ mừng tuổi lại những đồng tiền mới đựng trong phong bao lì xì màu đỏ để lấy may kèm theo những lời chúc các con cháu hay ăn chóng lớn, học hành giỏi giang, hạnh phúc, vui vẻ trong năm mới. Tiền mừng tuổi không quan trọng ở số tiền nhiều hay ít mà quan trọng ở ý nghĩa.

Xuất hành

Ngày mồng một Tết Nguyên Đán, người Việt thường chọn giờ đẹp, hướng đẹp phù hợp với tuổi để xuất hành với hy vọng gặp may mắn mỗi khi ra khỏi nhà.

Đi lễ chùa đầu năm

tục đi lễ chùa trong những ngày đầu của năm mới là một nét đẹp văn hóa tâm linh trong đời sống mỗi người Việt. Đi lễ chùa đầu năm không chỉ là để cầu xin một năm mới may mắn, phúc lộc và tỏ tấm lòng thành kính của mình đối với đức Phật, tổ tiên.